Theo dõi Diệu Pháp Âm Tổ Sư Thiền trên TuneIn Đây là trạm phát thanh hoằng dương Tổ Sư Thiền. Quý vị nên nghe đài bằng phần mềm TuneIn Radio hoặc tải tệp .m3u này về máy tính để nghe bằng trình phát nhạc riêng của mình (chẳng hạn VLC hỗ trợ hầu hết các định dạng). Đài được liệt kê trong thư viện của Icecast, vì vậy nếu Quí vị mở phần mềm VLC trên máy tính, rồi vào mục Icecast Radio Directory, gõ một trong các từ khóa sau tại ô tìm kiếm thì sẽ thấy: tosuthien, to su thien, thien tong, buddha, dhamma, dharma.

Tổng quan về thiền: 1. Ngoại đạo thiền: không thuộc Phật giáo, không giúp giải thoát khỏi luân hồi, có nhiều loại. 2. Như Lai thiền gồm: a/ Tiểu thừa thiền (xưng là nguyên thủy): Chưa phải là cứu cánh, gồm Thiền chỉ, Thiền quán (Sổ Tức Quán, Bất Tịnh Quán, Từ Bi Quán, Lục Thức Quán, Nhân Duyên Quán). Ví dụ Vipassana là tiểu thừa thiền. b/ Trung thừa thiền: cũng chưa phải là cứu cánh; quán thập nhị nhân duyên. c/ Đại thừa thiền: Cứu cánh, song chưa phải trực tiếp, gồm Sa-ma-tha, Tam-ma-bát-đề và Thiền-na. Ví dụ Quán giả, quán không, quán trung của Tông Thiên Thai thuộc Đại thừa thiền. 3. Tối thượng thừa thiền (tức Thiền Tông, cũng gọi là Tổ Sư Thiền): Đức Phật truyền cho Ngài Ma Ha Ca Diếp rồi lần lượt từng Tổ truyền xuống các Tổ đời sau, đến Tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền sang Trung Quốc. Pháp môn này bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật. Rất nhiều người lầm tưởng các pháp thiền trong Như Lai thiền là Thiền Tông !

Giảng Giải Kinh Lăng Nghiêm - HT Thích Duy Lực

Thứ tư - 20/12/2017 09:03

kinh lăng nghiêm giảng giải

kinh lăng nghiêm giảng giải
Kinh Thủ Lăng Nghiêm là kinh đại thừa liễu nghĩa, tức là Đức Phật đã nói ra hết nghĩa. Trong kinh này, ngài Quán Thế Âm chọn “nhĩ căn viên thông” để tu là phản văn văn tự tánh. Phản văn là lìa khỏi động tịnh, chứ không phải lìa động bên ngoài mà nghe tịnh bên trong! Đã lìa khỏi động tịnh thì không còn tên nghe nữa.
 
ĐẠI PHẬT ĐẢNH THỦ LĂNG NGHIÊM KINH
Hòa Thượng Duy Lực
GIẢNG
--o0o--
 
Lời Nói Đầu
 
Kinh Thủ Lăng Nghiêm là kinh đại thừa liễu nghĩa, tức là Đức Phật đã nói ra hết nghĩa. Trong kinh này, ngài Quán Thế Âm chọn “nhĩ căn viên thông” để tu là phản văn văn tự tánh.

Phản văn là lìa khỏi động tịnh, chứ không phải lìa động bên ngoài mà nghe tịnh bên trong! Đã lìa khỏi động tịnh thì không còn tên nghe nữa. Cho nên, trong Thiền tông có câu “Thường nghe khi chưa nghe”.

Ngài Hư Vân nói “Tham thoại đầu là phản văn văn tự tánh”. Hòa thượng Duy Lực hoằng dương Tổ Sư thiền cũng là đúng với ý chỉ kinh này và giải đáp thắc mắc của các hành giả.

Nay chúng tôi ghi lại những lời trong băng của Hòa thượng giảng các phần khó hiểu. Việc làm này không khỏi sai sót, tuy cố gắng hết sức. Nếu các vị độc giả thấy có gì khiếm khuyết, xin chỉ giáo cho.
 
Người thực hiện: Thích Đồng Thường.
 

Giải thích đề Kinh:

- Đại là siêu việt số lượng.

- Phật đảnh là đỉnh đầu Phật, gọi là vô kiến đỉnh (không thấy). Tại sao? Vì Phật đỉnh khắp không gian. Trong công án Phật Thích Ca nói lấy thước đo 1 trượng 6 không thấy đỉnh, đo cao cho tới trời Phạm Thiên cũng không thấy đỉnh.

- Thủ Lăng Nghiêm dịch là cứu kính kiên cố rốt ráo không lay động, không biến hoại,tồn tại vĩnh viễn không sinh diệt, cùng khắp thời gian. Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm cũng gọi là Phật tánh cùng khắp không gian và thời gian, nên gọi là Thật tướng. Khắp không gian không khứ lai gọi là Như Lai. Khắp thời gian không sinh diệt gọi là Niết Bàn.

- Kinh là thông thường (thấu qua tất cả pháp từ xưa đến nay).

- Kinh Thủ Lăng Nghiêm dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Hán, vào nhà Đường ở Trung Quốc do sa môn Bát La Mật Đế người Ấn Độ dịch nghĩa và sa môn Di Dà Thích Ca ở nước Tu Trường, thuộc miền tây bắc Trung Quốc dịch lời.

Bộ kinh này ở trong Hoàng cung dân tộc Rồng không cho ai lấy đi chỗ khác, vì thế sa môn Bát La Mật Đế biên chữ thật nhỏ bỏ trong bắp thịt chân khâu lại rồi mang qua Trung Quốc. Khi lấy ra thì thấy các chữ bị máu làm mờ, vợ Phồn Dung chỉ cách làm rõ chữ, bằng cách lấy sữa người để rửa rồi dịch ra.

Văn chương của Thừa tướng Phồn Dung rất hay. Đời sau Lương Khải Siêu cho Kinh của ông dịch là thiên ngụy, nhưng sự thật không thể cho là ngụy được. Thời xưa viết kinh sách trên thẻ tre vì không có giấy, nên kinh sách họ học để đầy nhà. Vì vậy dùng văn tự rất súc tích, nhiều chỗ có ý mà không lời, không những kinh Phật mà sách thuốc và các loại sách khác cũng có ý mà không lời. 

Trường hợp này, người Hán thành thạo chữ Hán đọc dễ hiểu, người Việt ít biết chữ Hán nên đọc khó hiểu. Vì vậy, tôi thêm lời vào chỗ có ý, chỗ nào cần thì ghi chú, còn chỗ nào nghĩa lý thâm sâu phải lược giải thêm. Tôi là người Hoa có nói ra thường có văn phạm tiếng Hán, vì thế nhờ người Việt chấp bút ra văn phạm tiếng Việt, thật ra vẫn còn văn phạm tiếng Hán người đọc cũng biết là do người Hoa dịch.
-------------------------------------------
Quý vị đọc tiếp thì nhấn nút "Xem trước" màu xanh phía dưới hoặc tải "File đính kèm" về máy đọc

Tác giả bài viết: Vũ Văn Hùng

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Theo dõi Diệu Pháp Âm Tổ Sư Thiền trên TuneIn
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây