Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Lược Giải - HT Thích Duy Lực

Thứ ba - 13/02/2018 09:12

bát nhã tâm kinh lược giải

bát nhã tâm kinh lược giải
Chữ Tâm nói ra thật rất khó nói, bởi vì chân tâm, vọng tâm cũng là nó, chánh tâm, tà tâm cũng là nó. Kinh Hoa Nghiêm nói "Nhất thiết duy Tâm tạo", vậy vũ trụ vạn hữu và vạn vô, tất cả đều là nó. Nói "Tâm bao gồm hư không Pháp giới" cũng còn chưa đúng, vì nếu nói như vậy thì tâm là tâm, hư không pháp giới là hư không pháp giới, thành ra hai rồi.
 
BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH LƯỢC GIẢI
Thích Duy Lực
--o0o--
 
I. Giải Thích Đề Kinh:

Sáu chữ Bát Nhã Ba La Mật Đa sẽ được giải ở câu đầu tiên của phần nội văn, bây giờ giải đề Kinh chỉ giải hai chữ Tâm Kinh:

Chữ Tâm nói ra thật rất khó nói, bởi vì chân tâm, vọng tâm cũng là nó, chánh tâm, tà tâm cũng là nó. Kinh Hoa Nghiêm nói "Nhất thiết duy Tâm tạo", vậy vũ trụ vạn hữu và vạn vô, tất cả đều là nó. Nói "Tâm bao gồm hư không Pháp giới" cũng còn chưa đúng, vì nếu nói như vậy thì tâm là tâm, hư không pháp giới là hư không pháp giới, thành ra hai rồi. Còn nói đến "Bổn Tâm", bổn tâm tức là tự tánh, tự tánh là Bất Nhị (không hai). Hư không pháp giới tức là Tâm, Tâm tức là hư không pháp giới, chẳng phải là hai cái, không có khác biệt, như vậy mới đúng với cái nghĩa Bất Nhị của tự tánh. Nhưng tâm của chúng ta hiện nay có muôn ngàn sai biệt, không những một mình có đủ thứ tâm như tâm tham, tâm sân, tâm si, tâm cống cao ngã mạn, tâm ác, tâm thiện, tâm tín, tâm nghi v.v... mà muôn ngàn người lại có muôn ngàn cái tâm sai biệt bất đồng nữa. Bây giờ Tâm Kinh nầy là muốn làm cho tất cả muôn ngàn cái tâm sai biệt đều đạt đến chỗ hoàn toàn không sai biệt, hồi phục lại cái Bất Nhị của tự tánh, cho nên Kinh này chỉ rõ đường lối tu hành cho chúng ta, dạy chúng ta y theo đó mà thực hành để đạt đến chỗ Bất Nhất Bất Nhị, chổ hoàn toàn không có sai biệt, không những không có cái sai biệt của cá nhân, cũng không có cái sai biệt của chúng sanh, đây là ý nghĩa của hai chữ Tâm Kinh vậy.

Chữ Kinh là chữ thông thường, không cần phải giải nữa.

II- Giải Thích Nội Văn:

Quán Tự Tại Bồ Tát hành Thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai Không, độ nhất thiết khổ ách.

Quán Tự Tai Bồ Tát: Nhiều người cho là Quán Thế Âm Bồ Tát, nhưng tôi nói là Quán Thế Âm Bồ Tát cũng được, nói tự tánh của tất cả mọi người đều vốn có cũng được, bởi vì Tự Tánh tức là Quán Thế Âm Bồ Tát, Tự Tánh tức là Quán Tự Tai Bồ Tát, cũng như Lục Tổ nói "Tự Tánh tự độ", Quán Tự Tại Bồ Tát tự tánh tự độ, cái tự tánh Quán Âm của mình cũng phải tự tánh tự độ mới được. Không những là tự tánh Quán Âm mà còn là tự tánh Phật nữa: Phật thuyết Bát Nhã Tâm Kinh nầy không những chỉ nói với hàng Bồ Tát, mà cũng là dạy cho tất cả chúng sanh, mỗi mỗi đều phải tự tánh tự độ, cho nên tôi nói Quán Tự Tại Bồ Tát là Quán Thế Âm hay là tự tánh của chúng ta cũng được.

Hành Thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời.

Hành là thực hành. Thâm là hình dung Bát Nhã như Ma Ha Bát Nhã (Đại Bát Nhã), Kim-Cang Bát Nhã và Thâm Bát Nhã trong Kinh nầy cái ý cũng giống nhau. Chữ Thâm nầy tức là siêu việt số lượng, không phải đối với cạn mà nói sâu, cũng như chữ Đại của Đại Bát Nhã, không phải đối với nhỏ mà nói lớn, mà là siêu việt số lượng, nếu có số lượng thì không gọi được là Thâm, nếu có số lượng thì không phải là Bát Nhã.

Bát Nhã dịch là trí huệ, nhưng trí huệ nầy không phải như trí huệ của thế gian; trí huệ của thế gian cần phải qua sự tác ý mới dùng được, còn Bát Nhã của tự tánh thì không cần sự tác ý. Cái dụng của Bát Nhã rất lớn, không có khuôn khổ, không bị tất cả hạn chế, do đó sức dụng của Bát Nhã với sự ứng dụng trí huệ của thế gian khác nhau, vì thế nên người dịch không dịch ngay là trí huệ mà chỉ y theo tiếng Phạn (Ấn Độ) gọi là Bát Nhã. Tổ Sư nói: "Không có Bát Nhã không phải là Bát Nhã, có Bát Nhã cũng không phải là Bát Nhã". Không có Bát Nhã đương nhiên không phải là Bát Nhã rồi, nhưng tại sao có Bát Nhã cũng chẳng phải là Bát Nhã? Bởi vì: Có đối với Không là tương đối, lọt vào tứ cú (Tứ cú: có, không, chẳng có chẳng không, cũng có cũng không), còn Bát Nhã thì không thể lọt vào tứ cú được, cho nên nói có Bát Nhã cũng chẳng phải Bát Nhã là lý nầy vậy.

Vậy muốn Hành thâm Bát Nhã để làm gì? Là dể đạt đến Ba La Mật Đa. Bốn chữ nầy từ tiếng Phạn dịch ra, chữ ĐA là tiếng đệm, không có nghĩa, còn ba chữ kia Ba La Mật nghĩa là bờ bên kia. Chúng ta ở bờ bên nầy thì có khổ, có phiền não, không được tự do tự tại, nếu chúng ta phát huy được cái đại dụng của Bát Nhã thì được đạt đến bờ bên kia; bờ bên kia là thí dụ chỗ tự do tự tại, không có phiền não và khổ sở.

Bây giờ chúng ta Tham thiền, đề câu thoại đầu, khởi lên nghi tình, tức là hành thâm Bát Nhã rồi, chỉ cần dũng mãnh tham cứu mãi, tương lai nhất định sẽ đến được bờ bên kia. Tham tới lúc ngộ tức là Chiếu Kiến Ngũ Uẩn Giai Không. Trong Kinh Lăng Nghiêm nói đến quá trình phá ngũ uẩn: là từ sắc uẩn đến thức uẩn, y theo thứ lớp mà phá, khi phá được thức uẩn rồi là Kiến Tánh. Đến đây, tất cả chướng ngại đều bị quét sạch, cho nên Kinh nói Giai Không.

Phật pháp nói chữ Không là để hiện ra cái dụng tích cực của tự tánh, chứ không phải là cái rỗng không tiêu cực như người đời hay hiểu lầm, cũng không phải là cái không ngơ. Chữ Không nầy kỳ thực nói ra rất dễ hiểu, ví như một căn nhà, nếu không có cái Không (chỗ trống) thì không ở được, một cái bàn không có cái Không thì chẳng thể đồ được, một cái tách nếu không có cái Không thì chẳng thể đựng trà, đựng nước, đựng cà phê được, cho nên có thể suy ra, bất cứ cái gì nếu không có cái không thì chẳng thể dùng được. Muốn dùng thì phải có cái Không, cái Không đến cùng tột thì cái dụng cũng được đến cùng tột. Cái dụng của tự tánh cũng như vậy, hễ Không đến cực thì dụng đến cực, mà dụng đến cực tức là Phật, cũng là hoàn toàn phát huy được cái dụng của Bát Nhã, đến lúc đó cái đại dụng của Bát Nhã cùng khắp hư không pháp giới, ánh sáng ấy chiếu đến đâu thì tất cả tai nạn khổ sở đều bị tiêu tan sạch. Chữ Độ là độ thoát, tức là Độ Thoát Nhất Thiết Khổ Ách rồi.

Đoạn thứ nhất nầy là nói tổng quát, văn sau sẽ lần lượt nói từ lớp.

Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị.

Hai chữ Xá Lợi là tiếng Ấn Độ, là tên của người mẹ. Tử là con (tiếng Hán). Xá Lợi Tử tức là Xá Lợi Phất trong Kinh Di Đà, là đại diện đương cơ của Kinh nầy. Phật mỗi lần thuyết pháp đều có một vị đại điện đương cơ, để đại diện người nghe đối đáp với Phật. Trong mỗi cuốn Kinh, Phật tuy chỉ nói với một vị đại diện đương cơ, kỳ thực cũng là nói với đại chúng cùng nghe.
------------------------------
Quý vị đọc tiếp thì nhấn nút "Xem trước" màu xanh phía dưới bài viết hoặc tải "File đính kèm" về máy đọc

Tác giả bài viết: Vũ Văn Hùng

 Tags: thiền tông, thọ, tham thiền, tham thoại đầu, khán thoại đầu, chiếu cố thoại đầu, Tổ Sư Thiền, tối thượng thừa thiền, hầm sâu vô minh, HT Thích Duy Lực, vô thủy vô minh, Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Lược Giải HT Thích Duy Lực, Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Lược Giải, Bát Nhã Tâm Kinh, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, tưởng, hành, thức diệc phục như thị, Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm, thị cố không trung vô sắc, vô thọ, thức, vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, vô sắc thinh, hương, vị, xúc, pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới, Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận, Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố, Bồ Đề tát đỏa, y Bát Nhã ba la mật đa, cố tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố vô hữu khủng bố, Viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn, Cố tri bát nhã ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ ách chân thật bất hư, Cố thuyết bát nhã ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết yết đế, yết đế, ba la yết đế ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Theo dõi Diệu Pháp Âm Tổ Sư Thiền trên TuneIn
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây